Trường hợp nào thì trẻ em 04 đến dưới 16 tuổi 900.000 1.200.000 và 1.500.000 đồng tiền trợ cấp xã hội hàng tháng từ 01/7/2026 theo đề xuất?
Ngày 10 tháng 4 năm 2026, chuyên trang Góc Nhìn Pháp Lý đăng tải bài viết với tiêu đề “Đề xuất 03 mức hưởng từ 01/7/2026 cho trẻ em 04 đến dưới 16 tuổi 900.000 1.200.000 và 1.500.000 đồng cụ thể với từng trường hợp ra sao?”. Nội dung như sau:

Hiện nay, Bộ Y tế đang lấy ý kiến dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định 20/2021/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 76/2024/NĐ-CP dự kiến có hiệu lực từ 01/7/2026.
Bộ Y tế đề xuất tăng mức chuẩn trợ giúp xã hội là 600.000 đồng/tháng từ 01/7/2026 (hiện nay mức chuẩn trợ giúp xã hội là 500.000 đồng/tháng căn cứ Điều 4 Nghị định 20/2021/NĐ-CP được sửa đổi bởi khoản 1 Điều 1 Nghị định 76/2024/NĐ-CP).
Trường hợp trẻ em từ 04 đến dưới 16 tuổi được hưởng 900.000 đồng/tháng (hệ số 1,5) gồm:
– Bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi;
– Mồ côi cả cha và mẹ;
– Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật;
– Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội, nhà xã hội;
– Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
– Cả cha và mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật;
– Cả cha và mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội, nhà xã hội;
– Cả cha và mẹ đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
– Cha hoặc mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội, nhà xã hội;
– Cha hoặc mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
– Cha hoặc mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Trường hợp trẻ em từ 04 đến dưới 16 tuổi được hưởng 1.200.000 đồng/tháng (hệ số 2,0) gồm:
– Trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo.
– Trẻ em khuyết tật nặng.
Trường hợp trẻ em từ 04 đến dưới 16 tuổi được hưởng 1.200.000 đồng/tháng (hệ số 2,5) gồm:
– Trẻ em khuyết tật đặc biệt nặng.
| Phương pháp xác định dạng khuyết tật và mức độ khuyết tật ở trẻ em ra sao?
Căn cứ Điều 3 Thông tư 01/2019/TT-BLĐTBXH quy định: Phương pháp xác định dạng khuyết tật và mức độ khuyết tật 1. Phương pháp xác định mức độ khuyết tật thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 17 của Luật Người khuyết tật. Hội đồng quan sát trực tiếp người khuyết tật, thông qua thực hiện hoạt động đơn giản phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày, sử dụng bộ câu hỏi theo các tiêu chí về y tế, xã hội quy định tại Phiếu xác định mức độ khuyết tật ban hành kèm theo Thông tư này và các phương pháp đơn giản khác để xác định dạng khuyết tật, mức độ khuyết tật đối với từng người khuyết tật. 2. Xác định dạng khuyết tật và mức độ khuyết tật đối với trẻ em dưới 6 tuổi Sữa rửa mặt foaming giúp làm sạch sâu và dưỡng ẩm dịu nhẹ dành cho da dầu – CeraVe Foaming Facial Cleanser chính hãng
Hội đồng căn cứ hồ sơ đề nghị xác định mức độ khuyết tật, sử dụng phương pháp xác định mức độ khuyết tật quy định tại Khoản 1 Điều này; phỏng vấn người đại diện hợp pháp của trẻ em và sử dụng “Phiếu xác định mức độ khuyết tật đối với trẻ em dưới 6 tuổi” theo Mẫu số 02 ban hành kèm theo Thông tư này để xác định dạng khuyết tật và mức độ khuyết tật. 3. Xác định dạng khuyết tật và mức độ khuyết tật đối với người từ đủ 6 tuổi trở lên Hội đồng căn cứ hồ sơ đề nghị xác định mức độ khuyết tật, sử dụng phương pháp xác định mức độ khuyết tật quy định tại Khoản 1 Điều này, phỏng vấn người được xác định mức độ khuyết tật hoặc người đại diện hợp pháp của người khuyết tật và sử dụng “Phiếu xác định mức độ khuyết tật đối với người từ đủ 6 tuổi trở lên” theo Mẫu số 03 ban hành kèm theo Thông tư này để xác định dạng khuyết tật và mức độ khuyết tật. Hội đồng căn cứ hồ sơ đề nghị xác định mức độ khuyết tật, sử dụng phương pháp quan sát trực tiếp người khuyết tật, thông qua thực hiện hoạt động đơn giản phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày, sử dụng bộ câu hỏi theo các tiêu chí về y tế, xã hội và các phương pháp đơn giản khác để kết luận mức độ khuyết tật đối với từng người khuyết tật. Phỏng vấn người đại diện hợp pháp của trẻ em và sử dụng “Phiếu xác định mức độ khuyết tật đối với trẻ em dưới 6 tuổi” theo Mẫu số 02 ban hành kèm theo. Đối với trẻ em 06 tuổi trở lên: – Hội đồng căn cứ hồ sơ đề nghị xác định mức độ khuyết tật, sử dụng phương pháp quan sát trực tiếp người khuyết tật, thông qua thực hiện hoạt động đơn giản phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày, sử dụng bộ câu hỏi theo các tiêu chí về y tế, xã hội và các phương pháp đơn giản khác để kết luận mức độ khuyết tật đối với từng người khuyết tật. – Phỏng vấn người được xác định mức độ khuyết tật hoặc người đại diện hợp pháp của người khuyết tật và sử dụng “Phiếu xác định mức độ khuyết tật đối với người từ đủ 6 tuổi trở lên” theo Mẫu số 03 ban hành kèm theo. |
Báo Sức Khỏe Đời Sống cũng đăng tải bài viết với tiêu đề “Từ 2026, đối tượng này nhận tin vui khi được TP Hà Nội hỗ trợ tới 1,6 triệu đồng”. Nội dung như sau:
Hội đồng Nhân dân TP Hà Nội đã ban hành Nghị quyết số 63/2025/NQ-HĐND có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/2026, quy định mức chuẩn trợ giúp xã hội và chính sách trợ giúp xã hội của TP Hà Nội.

Từ 2026, nhiều đối tượng trẻ em được nhận trợ cấp xã hội theo Nghị quyết 63/2025/NQ-HĐND của HĐND TP Hà Nội. Ảnh minh họa: TL
Theo Nghị quyết, nhiều đối tượng trẻ em được nhận trợ cấp xã hội khi đáp ứng điều kiện này:
– Trẻ em; người từ đủ 16 tuổi đến dưới 22 tuổi đang học văn hóa, học nghề, học tại các Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên, học cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất; các đối tượng này thuộc một trong các trường hợp sau:
+ Mồ côi (hoặc không xác định được) cha hoặc mẹ và người còn lại là người khuyết tật đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hằng tháng.
+ Có cha hoặc mẹ là người khuyết tật đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hằng tháng và người còn lại thuộc một trong các trường hợp sau: bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật; đang chấp hành án phạt tù tại trại giam; đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc; đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở trợ giúp xã hội.
+ Có cả cha và mẹ là người khuyết tật đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hằng tháng.
Hệ số trợ cấp xã hội hằng tháng:
– Trẻ em dưới 4 tuổi: 2.5.
– Trẻ em từ đủ 4 tuổi đến dưới 16 tuổi; người từ đủ 16 tuổi đến dưới 22 tuổi đang đi học: 1.5.
Theo Nghị quyết 63/2025/NQ-HĐND, mức chuẩn trợ giúp xã hội của TP Hà Nội là 650.000 đồng/tháng.
Theo đó, đối với những trẻ em dưới 4 tuổi sẽ được hưởng tiền trợ cấp xã hội hằng tháng là: 2.5 x 650.000 đồng = 1.625.000 đồng/tháng.
Kinh phí trợ cấp cho các đối tượng được hưởng trợ giúp xã hội theo Nghị quyết này do ngân sách xã, phường đảm bảo, được cân đối trong dự toán ngân sách hàng năm cho các xã, phường.
